Chuyên mục
Hơn 155.000 doanh nghiệp rút lui: Chuyện gì xảy ra ở Việt Nam?

Hơn 155.000 doanh nghiệp rút lui: Chuyện gì xảy ra ở Việt Nam?

Thứ tư 19/08/2026 14:11 GMT + 7
Trong 7 tháng đầu năm, hơn 155.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 7,6% so với cùng kỳ. Theo các chuyên gia, những con số trên cần được nhìn trong bức tranh rộng hơn về sức ép kinh doanh và quá trình sàng lọc, tái cơ cấu đang diễn ra trong khu vực doanh nghiệp.

© Ảnh : TTXVN - Nguyễn Thị Chinh

 

Sức ép tứ bề: 10 doanh nghiệp rời thị trường, 12 doanh nghiệp gia nhập


Theo Cục Thống kê - Bộ Tài chính, 7 tháng đầu năm, cả nước có khoảng 187.200 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 7,5% so với cùng kỳ; trong khi khoảng 155.300 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 7,6%.


Như vậy, bình quân mỗi tháng có khoảng 26.700 doanh nghiệp gia nhập và 22.200 doanh nghiệp rút lui. Có thể thấy, số doanh nghiệp gia nhập vẫn cao hơn khoảng 31.900 doanh nghiệp, tương đương cứ 10 doanh nghiệp rút lui thì có khoảng 12 doanh nghiệp gia nhập thị trường. Đáng chú ý, tỷ lệ này thấp hơn năm 2020, thời điểm nền kinh tế chịu cú sốc COVID-19. Khi đó, khoảng 179.000 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, trong khi hơn 100.000 doanh nghiệp rút lui, tương đương cứ 10 doanh nghiệp rời thị trường có khoảng 18 doanh nghiệp gia nhập.

Riêng tại TP.HCM, như đã thông tin, trong 7 tháng có gần 39.000 doanh nghiệp rút lui, bao gồm tạm ngừng hoạt động và hoàn tất giải thể, cao hơn hơn 34.000 doanh nghiệp thành lập mới. Diễn biến này khiến lãnh đạo thành phố yêu cầu làm rõ nguyên nhân.


Theo các chuyên gia, điều này cho thấy số doanh nghiệp rút lui cao không nhất thiết mâu thuẫn với tăng trưởng kinh tế. GDP phản ánh tổng giá trị gia tăng, trong khi sức khỏe từng doanh nghiệp phụ thuộc vào ngành nghề, quy mô, năng suất, khả năng tiếp cận vốn và sức cạnh tranh. Những khu vực có quy mô lớn, năng suất cao, xuất khẩu tốt hoặc thu hút nhiều vốn đầu tư vẫn có thể tăng trưởng mạnh, trong khi một bộ phận doanh nghiệp nhỏ phải thu hẹp hoặc rời thị trường.


Một điểm đáng chú ý khác là vốn bình quân của doanh nghiệp thành lập mới đạt 12,1 tỷ đồng, tăng gần 40% so với cùng kỳ. Riêng tháng 7, vốn đăng ký bình quân đạt 11,7 tỷ đồng, tăng 64,4%, dù số doanh nghiệp thành lập mới giảm gần 14%.


Trên báo Tiền Phong, TS Nguyễn Quốc Việt, giảng viên Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, nhận định khu vực doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn hơn so với năm ngoái, song đây không phải vấn đề chỉ xuất hiện trong năm nay.


Một trong những áp lực lớn nhất là chi phí kinh doanh gia tăng. Bất ổn kinh tế và địa chính trị toàn cầu, chiến tranh, đứt gãy chuỗi cung ứng và biến động giá khiến giá nguyên vật liệu, nhân công, đặc biệt là lao động chất lượng cao, cùng tăng. Doanh nghiệp nhỏ và vừa với năng lực tài chính và cạnh tranh hạn chế vì vậy gặp nhiều bất lợi so với doanh nghiệp lớn hoặc doanh nghiệp FDI có ưu thế về nguồn lực, đơn hàng và khả năng tham gia các dự án lớn.


Thay đổi về thể chế và chính sách cũng tạo thêm sức ép. Các yêu cầu về thuế, hóa đơn, chứng từ, chất lượng sản phẩm, truy xuất nguồn gốc... được đánh giá là cần thiết để nâng tính minh bạch, nhưng doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh có thể gặp khó nếu không kịp thích nghi. Với doanh nghiệp tham gia thị trường quốc tế, chi phí đáp ứng tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và các điều kiện mới cũng ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí xuất khẩu.

Từ thực tế sản xuất, ông Lê Mai Hữu Lâm, Tổng Giám đốc Công ty CP Sản xuất Thiết bị điện công nghiệp Cát Vạn Lợi cũng mô tả trên báo Tiền Phong rằng doanh nghiệp đang trong tình trạng "tứ bề thọ địch". Theo ông, chi phí tuân thủ trong nước ngày càng cao. Đây là những thay đổi cần thiết để môi trường kinh doanh minh bạch hơn, nhưng trong ngắn hạn tạo thêm áp lực, đặc biệt với doanh nghiệp vừa và nhỏ.


Chi phí vốn cũng là vấn đề lớn. Ông Lâm cho rằng với doanh nghiệp sản xuất, nếu quản trị tốt, biên lợi nhuận cũng không quá 10%, trong khi lãi suất vay có thể lên tới 14-15%/năm. Khi chi phí vốn tăng, phương án kinh doanh bị đảo lộn và doanh nghiệp có xu hướng ưu tiên bảo toàn vốn, thận trọng hơn khi đầu tư.


Tương tự, ông Bùi Khánh Dũng, Tổng Giám đốc Công ty Musa Pacta, cho biết doanh nghiệp nông nghiệp gặp khó khi chứng minh tài sản thế chấp. Cây trồng có thể do doanh nghiệp đầu tư nhưng giấy tờ đất lại đứng tên người khác. Doanh nghiệp của ông hiện có khoản vay với lãi suất thấp nhất khoảng 7,8% tại ngân hàng nông nghiệp, trong khi một số khoản vay thương mại khác có lãi suất gần 16%. Theo ông Dũng, nhu cầu vốn của doanh nghiệp nhỏ rất lớn nên chỉ cần giảm được một phần lãi suất cũng mang lại hỗ trợ đáng kể.


Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam khi góp ý dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã đề nghị không chỉ dừng ở việc "khuyến khích" các tổ chức tín dụng cho vay mà cần có cơ chế cụ thể để vốn thực sự đến được doanh nghiệp. Cơ quan này cũng đề xuất hoàn thiện cơ chế nhận tài sản bảo đảm là máy móc, thiết bị, hàng tồn kho, nguyên vật liệu và khoản phải thu, qua đó mở rộng khả năng vay vốn cho những doanh nghiệp có hoạt động sản xuất thực nhưng thiếu tài sản thế chấp.


Rút lui nhiều có phải dấu hiệu xấu?


Theo các chuyên gia, cần thận trọng khi diễn giải con số hơn 155.000 doanh nghiệp rút lui. Các trạng thái tạm ngừng kinh doanh, ngừng hoạt động chờ giải thể và hoàn tất giải thể có bản chất khác nhau, do đó không thể đồng nhất toàn bộ doanh nghiệp rút lui với phá sản hoặc mất khả năng kinh doanh.


Báo Thanh Niên dẫn ý kiến của GS-TS Võ Xuân Vinh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh doanh, Đại học Kinh tế TP.HCM cho rằng nếu doanh nghiệp có vốn lớn, công nghệ và năng suất cao đang gia nhập, trong khi những doanh nghiệp nhỏ, năng suất thấp rời đi, nền kinh tế có thể đang tái cơ cấu theo hướng tích cực. Ngược lại, nếu những doanh nghiệp rút lui là các đơn vị đang hoạt động thực chất, tạo nhiều việc làm và có khả năng đóng góp thuế, trong khi doanh nghiệp mới dù vốn lớn nhưng tạo ít việc làm, cần xem xét lại chất lượng tăng trưởng và sức khỏe của khu vực kinh tế tư nhân.

Về vấn đề này, PGS-TS Nguyễn Thường Lạng cũng cho rằng cần xác định nhóm doanh nghiệp nào đang rời thị trường và nền kinh tế thực sự mất đi những năng lực sản xuất nào.
Nếu phần lớn là doanh nghiệp siêu nhỏ, vốn thấp, hoạt động kém hiệu quả hoặc đã ngừng nhiều năm rồi mới hoàn tất thủ tục giải thể, đây có thể là quá trình thanh lọc bình thường.

 

Nhưng nếu doanh nghiệp đang hoạt động thực chất phải rời thị trường do không chịu nổi chi phí kinh doanh thì lại là tín hiệu đáng lưu ý. Dữ liệu về vốn đăng ký tăng trong khi một bộ phận doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và thâm dụng lao động chịu sức ép lớn cũng đặt ra khả năng nền kinh tế đang trải qua quá trình tái cấu trúc: doanh nghiệp mới gia nhập với quy mô vốn lớn hơn, còn một bộ phận doanh nghiệp nhỏ dần rút lui.


Dù vậy, ông Lê Mai Hữu Lâm cho rằng bức tranh không hoàn toàn tiêu cực. Quá trình dịch chuyển chuỗi cung ứng và việc các tập đoàn quốc tế tìm kiếm thêm địa điểm sản xuất, nguồn cung đang mở ra cơ hội mới. Theo ông, đây cũng là thời điểm phù hợp để doanh nghiệp Việt Nam tìm đường bước ra thị trường thế giới.


Theo các chuyên gia, bên cạnh hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ vượt qua khó khăn trước mắt, chính sách cần hướng đến mục tiêu dài hạn là hình thành lớp doanh nghiệp có quy mô lớn, năng suất cao và đủ sức cạnh tranh quốc tế.

GS-TS Võ Xuân Vinh cho rằng cần tạo điều kiện để doanh nghiệp có năng lực tích lũy vốn, mở rộng đầu tư, đổi mới công nghệ và phát triển thị trường. Chính sách về tín dụng, đất đai, thuế, khoa học công nghệ và đào tạo nhân lực cần khuyến khích đầu tư dài hạn, nâng năng suất và mở rộng quy mô. Đặc biệt, cần hình thành cơ chế để doanh nghiệp lớn trong nước dẫn dắt hệ sinh thái doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khi các doanh nghiệp đầu tàu phát triển, doanh nghiệp cung ứng nguyên vật liệu, logistics, công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ và công nghệ cũng có thêm cơ hội tham gia chuỗi giá trị.


PGS-TS Nguyễn Thường Lạng cho rằng không nên chỉ nhìn vào số doanh nghiệp rời thị trường, mà cần đánh giá sau quá trình sàng lọc, nền kinh tế hình thành được bao nhiêu doanh nghiệp mạnh hơn, năng suất cao hơn và tạo ra nhiều giá trị hơn. Mục tiêu cuối cùng là chuyển từ một nền kinh tế có nhiều doanh nghiệp sang nền kinh tế có nhiều doanh nghiệp mạnh và có khả năng lớn lên. Muốn vậy, cần giảm chi phí gia nhập, duy trì và mở rộng hoạt động, đồng thời bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng và chính sách ổn định.

Nguồn: kevesko.vn
0 bạn đọc
Đánh giá tốt
Chuyên mục liên quan
X
Bình luận của bạn:

СМИ сетевое издание «Baonga.com» зарегистрировано в Федеральной службе по надзору в сфере связи, информационных технологий и массовых коммуникаций. Регистрационный номер средства массовой информации Эл № ФС77-73891 от 29 октября 2018 г. Учредитель Ха Вьет Лонг, номер телефона: +7(905) 238 89 99. Главный редактор: Чан Тхи Тху Ха: Адрес электронной почты: info@baonga.com; Номер телефона: +7(960) 222 19 99. Настоящий ресурс содержит материалы 16+. Использование информации с данного веб-сайта возможно исключительно на следующих условиях: В конце текста необходимо указывать ссылку на сайт https://baonga.com. Текст должен копироваться в первоначальном виде. Не допускается удаление ссылки на данный веб-сайт из текстов материалов. Реклама: Rus +7(926) 282 29 86 (Viber, Whatsapp, Zalo); Вьетнам +84.979.137.386.