Chuyên mục
Thương hiệu quốc gia Việt Nam vượt 519 tỷ USD: Xuất hiện bẫy nhà cung cấp ẩn danh

Thương hiệu quốc gia Việt Nam vượt 519 tỷ USD: Xuất hiện bẫy nhà cung cấp ẩn danh

Thứ năm 24/09/2026 16:56 GMT + 7
Dù giữ vị trí ngày càng quan trọng trong chuỗi sản xuất toàn cầu, doanh nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu tham gia ở các khâu có giá trị gia tăng thấp, trong khi thiết kế, công nghệ lõi, sở hữu trí tuệ và thương hiệu còn hạn chế.

© Ảnh : PV/Vietnam+

 

Việt Nam xuất khẩu hàng trăm tỷ USD nhưng gặp bẫy nhà cung cấp ẩn danh


Bộ Công Thương cho biết, giá trị thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2025 đạt được công bố ở mức519,6 tỷ USD, xếp thứ 32/193 nền kinh tế theo Brand Finance.


Cục Thống kê (Bộ Tài chính) thống kê cho thấy, trong 8 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 770,14 tỷ USD, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm 2025. Xuất khẩu đạt 374,84 tỷ USD, tăng 22,4%, trong khi nhập khẩu đạt 395,3 tỷ USD, tăng 35,3% so với cùng kỳ năm 2025.


Tại Diễnđàn Chiến lược thương hiệu và Cạnh tranh tổ chức ngày 23/9, TS. Trần Lê Hồng, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), cho biết kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2024 đạt 405,5 tỷ USD. Riêng nhóm điện tử, máy tính và linh kiện đạt 72,5 tỷ USD, còn điện thoại và linh kiện mang về 53,8 tỷ USD.


Đáng chú ý, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp 290,9 tỷ USD, tương đương 71,7% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, phần lớn hoạt động sản xuất công nghệ cao tại Việt Nam vẫn tập trung vào khâu lắp ráp, trong khi khả năng thiết kế và làm chủ các công nghệ cốt lõi chưa tương xứng.

Theo Báo Đầu tư dẫn ý kiến của TS. Trần Lê Hồng, một vấn đề cần đặc biệt lưu ý là khoảng cách giữa giá trị của hàng hóa xuất khẩu và phần giá trị nền kinh tế thực sự giữ lại. Nếu doanh nghiệp không nắm trong tay thiết kế, sáng chế, nhãn hiệu hay hệ thống phân phối, phần lợi nhuận lớn thường rơi vào các chủ thể sở hữu những tài sản vô hình này.


Ông gọi đây là “bẫy nhà cung cấp ẩn danh” - tình trạng doanh nghiệp tham gia tạo ra giá trị nhưng lại phụ thuộc vào một số khách hàng lớn và không có nhiều khả năng quyết định giá bán.


“Trường hợp công nghệ mạnh, thương hiệu yếu giải thích vì sao một nền kinh tế có thể xuất khẩu hàng trăm tỷ USD sản phẩm công nghệ cao mà thu nhập đầu người vẫn ở mức trung bình: giá trị được tạo ra nhưng không được giữ lại”, TS. Trần Lê Hồng nhận định.


Chuỗi giá trị của iPhone 4 và iPad được đưa ra như một ví dụ cho sự chênh lệch trong cách phân bổ lợi nhuận. Theo nghiên cứu năm 2011 của Kraemer, Linden và Dedrick, được trích dẫn trong Báo cáo Sở hữu trí tuệ thế giới 2017 của WIPO, Apple giữ khoảng 58% giá bán lẻ iPhone dưới dạng lợi nhuận gộp, trong khi chi phí lao động cho khâu lắp ráp tại Trung Quốc chỉ chiếm khoảng 1,8%.


Câu chuyện tương tự cũng xuất hiện trong ngành cà phê. Trước năm 1989, các quốc gia trồng cà phê giữ khoảng 20% thu nhập bán lẻ, trong khi các nước nhập khẩu nắm 55%. Sau khi cơ chế hạn ngạch của Hiệp định Cà phê quốc tế chấm dứt, tỷ lệ này lần lượt giảm còn 13% đối với các nước trồng cà phê và tăng lên 78% đối với các nước nhập khẩu.


TS. Trần Lê Hồng cho biết, hơn 90% sáng chế liên quan đến cà phê lại tập trung ở các công đoạn chế biến và phân phối. Theo ông, điều này cho thấy tài nguyên và khả năng sản xuất mới chỉ là bước khởi đầu, trong khi sở hữu trí tuệ, thương hiệu và mạng lưới phân phối mới là những yếu tố quyết định doanh nghiệp có thể giữ lại bao nhiêu giá trị.


Không thể chỉ dựa vào mở rộng quy mô sản xuất


Theo TS. Trần Lê Hồng, Việt Nam cần chuyển trọng tâm từ đơn thuần mở rộng sản xuất sang nâng cao phần giá trị giữ lại trong nền kinh tế. Một trong những yêu cầu quan trọng là củng cố nền tảng nghiên cứu và phát triển, đồng thời cải thiện năng lực tiếp nhận và hấp thụ công nghệ của các doanh nghiệp trong nước.


Năm 2025, Việt Nam đứng thứ 44 trong Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu. Tuy nhiên, mức chi cho nghiên cứu và phát triển mới tương đương khoảng 0,5% GDP.


Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 nâng tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển lên 2% GDP, trong đó hơn 60% nguồn lực đến từ xã hội. Đồng thời, ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm sẽ được dành cho khoa học và công nghệ.


TS. Trần Lê Hồng cũng cho rằng chính sách ưu đãi đầu tư nước ngoài cần chuyển từ mục tiêu chủ yếu là thu hút vốn sang thúc đẩy liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước. Theo đó, những ưu đãi lớn nên gắn với yêu cầu chuyển giao công nghệ thực chất cũng như triển khai hoạt động nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam.

Việc các tập đoàn công nghệ quốc tế hiện diện tại Việt Nam không đồng nghĩa hiệu ứng lan tỏa sẽ tự động xuất hiện. Nếu doanh nghiệp trong nước thiếu đội ngũ kỹ thuật, năng lực quản trị, hệ thống tiêu chuẩn và nền tảng nghiên cứu, cơ hội tiếp nhận công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị vẫn sẽ bị hạn chế.


Vì vậy, bên cạnh vốn đầu tư đăng ký và kim ngạch xuất khẩu, cần theo dõi những chỉ số phản ánh rõ hơn chất lượng phát triển, như số doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng, tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước, quy mô hoạt động R&D hay số lượng tài sản trí tuệ được hình thành tại Việt Nam.


Sở hữu trí tuệ cũng cần được nhìn nhận như một bộ phận của hạ tầng kinh tế, thay vì chỉ được xem là thủ tục hành chính. Chỉ khi sáng chế, nhãn hiệu, dữ liệu và thiết kế thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Việt Nam, năng lực sản xuất mới có thể chuyển hóa thành biên lợi nhuận cao hơn và khả năng chủ động định giá.


Từ năng lực sản xuất đến quyền định giá và thương hiệu


Ở góc độ xúc tiến thương mại, bà Hà Kiều Oanh, Phó trưởng phòng Phát triển năng lực xúc tiến thương mại thuộc Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương, cho rằng trong cạnh tranh hiện nay, độ nhận diện thương hiệu không còn là yếu tố duy nhất. Niềm tin của thị trường và khả năng cung ứng ngày càng đóng vai trò quan trọng.


“Thương hiệu quốc gia chỉ thực sự trở thành nền tảng nâng cao năng lực cạnh tranh khi được xây dựng trên năng lực thực chất của doanh nghiệp và được chuyển hóa thành niềm tin của thị trường”, báo Đầu tư dẫn lời bà Oanh nhấn mạnh.


Trong khi đó, TS. Đoàn Đức Thuận, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, đề cập yêu cầu nâng cao năng lực dự báo chiến lược. Theo ông, doanh nghiệp cần xây dựng nhiều kịch bản khác nhau cùng các chỉ báo tương ứng, thay vì lập kế hoạch dựa trên một giả định duy nhất về tương lai.


TS. Vũ Hương Giang, Trưởng Bộ môn Quản trị Du lịch Khách sạn, Khoa Du lịch, Trường Đại học Mở Hà Nội, cũng lưu ý rằng tạo ra giá trị và giữ lại giá trị là hai vấn đề khác nhau.

Một điểm đến có thể đón lượng khách rất lớn nhưng lợi ích mà địa phương thu được chưa chắc tương xứng. Tương tự, kim ngạch xuất khẩu cao không đồng nghĩa với thu nhập cao nếu những công đoạn tạo ra phần lớn lợi nhuận lại nằm bên ngoài nền kinh tế.


Để thoát khỏi “bẫy nhà cung cấp ẩn danh”, Việt Nam cần tận dụng nền tảng sản xuất đã hình thành, đồng thời từng bước dịch chuyển lên những khâu có giá trị gia tăng cao hơn, từ nghiên cứu, thiết kế, xây dựng tiêu chuẩn, sở hữu trí tuệ đến thương hiệu và phân phối.


Chỉ khi doanh nghiệp làm chủ được công nghệ và tài sản thương hiệu, quy mô xuất khẩu lớn mới có thể thực sự chuyển hóa thành sức cạnh tranh, khả năng định giá và nguồn thu nhập bền vững.

Nguồn: kevesko.vn
0 bạn đọc
Đánh giá tốt
Chuyên mục liên quan
X
Bình luận của bạn:

СМИ сетевое издание «Baonga.com» зарегистрировано в Федеральной службе по надзору в сфере связи, информационных технологий и массовых коммуникаций. Регистрационный номер средства массовой информации Эл № ФС77-73891 от 29 октября 2018 г. Учредитель Ха Вьет Лонг, номер телефона: +7(905) 238 89 99. Главный редактор: Чан Тхи Тху Ха: Адрес электронной почты: info@baonga.com; Номер телефона: +7(960) 222 19 99. Настоящий ресурс содержит материалы 16+. Использование информации с данного веб-сайта возможно исключительно на следующих условиях: В конце текста необходимо указывать ссылку на сайт https://baonga.com. Текст должен копироваться в первоначальном виде. Не допускается удаление ссылки на данный веб-сайт из текстов материалов. Реклама: Rus +7(926) 282 29 86 (Viber, Whatsapp, Zalo); Вьетнам +84.979.137.386.