Chuyên mục
Lệnh cấm của Philippines khiến sản phẩm chăn nuôi Việt gặp rủi ro

Lệnh cấm của Philippines khiến sản phẩm chăn nuôi Việt gặp rủi ro

Chủ nhật 18/10/2026 10:55 GMT + 7
Lệnh cấm tạm thời của Philippines đối với một số động vật và sản phẩm động vật từ Việt Nam có thể gây rủi ro cho các hợp đồng đã ký và lô hàng đang vận chuyển, khi biện pháp này có hiệu lực trước thời điểm thông báo tới WTO 18 ngày.

© AP Photo / Aaron Favila

 

Philippines cấm nhập khẩu một số sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam


Theo Văn phòng SPS Việt Nam, trong 58 thông báo về an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật (SPS) của các thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) từ ngày 1-15/10/2026, đáng chú ý có thông báo G/SPS/N/PHL/545 của Philippines về việc tạm ngừng nhập khẩu một số sản phẩm chăn nuôi từ 23 quốc gia, trong đó có Việt Nam.


Biện pháp khẩn cấp này áp dụng với động vật, sản phẩm và phụ phẩm có nguy cơ cao mắc bệnh lở mồm long móng. Danh mục cấm gồm thịt cơ, ruột, mỡ, móng, sừng động vật; lợn, bò, hươu, nai sống và tinh dịch của các loài này.


Lệnh cấm có hiệu lực từ ngày 19/9/2026, nhưng đến ngày 7/10 mới được thông báo tới WTO. Dù Hiệp định SPS cho phép trình tự này đối với biện pháp khẩn cấp, khoảng chênh lệch 18 ngày vẫn có thể gây rủi ro cho những hợp đồng đã ký hoặc lô hàng đang vận chuyển. Hàng thuộc diện cấm sẽ bị đình chỉ nhập khẩu và tịch thu tại cửa khẩu Philippines.


Quy định được đưa ra khi xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi Việt Nam đang tăng mạnh. Trong 9 tháng đầu năm 2026, kim ngạch đạt 564 triệu USD, tăng 24,6% so với cùng kỳ, mức tăng cao nhất trong các nhóm hàng nông, lâm, thủy sản.


Tuy nhiên, Philippines vẫn cho phép nhập khẩu một số mặt hàng nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện kiểm dịch thú y. Danh mục ngoại lệ gồm sữa và sản phẩm sữa xử lý ở nhiệt độ siêu cao (UHT); sản phẩm thịt xử lý nhiệt trong bao bì kín, đạt giá trị F₀ từ 3 phút trở lên; bột protein; gelatin; da xử lý bằng vôi; da ngâm axit và da thuộc bán thành phẩm.

Doanh nghiệp cần lưu ý F₀ là chỉ số đo hiệu quả tiệt trùng, quy đổi về thời gian xử lý tương đương ở nhiệt độ 121°C nhằm tiêu diệt vi sinh vật trong thực phẩm. Để đáp ứng yêu cầu F₀ từ 3 phút trở lên, doanh nghiệp phải có hồ sơ kỹ thuật chứng minh quy trình xử lý nhiệt đạt chuẩn, thay vì chỉ xác nhận sản phẩm đã qua chế biến.


Như vậy, thị trường Philippines vẫn mở với một số sản phẩm được chế biến, xử lý phù hợp và có đầy đủ hồ sơ kỹ thuật. Với động vật sống, sản phẩm tươi hoặc sơ chế thuộc diện cấm, doanh nghiệp cần sớm trao đổi với đối tác nhập khẩu, rà soát hợp đồng, lịch giao hàng và điều kiện kiểm dịch để hạn chế thiệt hại khi hàng tới cửa khẩu.


Nhiều thị trường đồng loạt điều chỉnh tiêu chuẩn


Ngoài Philippines, một số thị trường cũng đang thay đổi yêu cầu đối với các nhóm nông sản, thực phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.


Với rau quả, ngành hàng đạt kim ngạch 7,345 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2026, tăng 19,9% so với cùng kỳ, doanh nghiệp cần theo dõi hai dự thảo của Canada về giới hạn dư lượng tối đa (MRL).


Theo thông báo G/SPS/N/CAN/1650, Canada đề xuất mức dư lượng Cyprodinil là 4,0 ppm trên quả na và 2,0 ppm với nhóm trái cây nhiệt đới, cận nhiệt đới có quả nhỏ, vỏ không ăn được. Thông báo G/SPS/N/CAN/1649 đề xuất mức dư lượng Fludioxonil là 20 ppm đối với quả na và nhóm trái cây trên, cùng mức 4,0 ppm đối với chuối.

Nhóm trái cây mã 24A trong phân loại của Canada bao gồm nhiều mặt hàng Việt Nam có thế mạnh như vải, nhãn, chôm chôm và chanh leo. Hạn góp ý cho cả hai dự thảo là trước ngày 13/12/2026.


Trong lĩnh vực thủy sản, ngành hàng đạt kim ngạch 9,172 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm, tăng 12,3%, Ai Cập đang xây dựng dự thảo Tiêu chuẩn ES 3495 trên cơ sở Codex CXS 166-1989. Dự thảo quy định yêu cầu chất lượng, an toàn thực phẩm và phương pháp thử nghiệm đối với cá đông lạnh nhanh dạng thanh, miếng và phi lê tẩm bột hoặc phủ bột nhào.


Theo Nghị định số 209/2026, Ai Cập cũng dành thời gian chuyển tiếp 6 tháng để nhà sản xuất, nhập khẩu đáp ứng Tiêu chuẩn ES 804 về cá ngừ, cá ngừ vằn đóng hộp, tương đương Codex CXS 70-1981, và Tiêu chuẩn ES 1725 về cá muối. Hạn góp ý đối với các thông báo này là trước ngày 6/12/2026.


Campuchia đã ban hành quy định gồm 5 chương về kiểm soát, kiểm tra chất lượng và an toàn đối với cá, sản phẩm thủy sản, áp dụng cho cả xuất khẩu và nhập khẩu. Các yêu cầu tập trung vào vệ sinh, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát dư lượng thuốc thú y, hóa chất, chất gây ô nhiễm và áp dụng hệ thống phân tích mối nguy, kiểm soát điểm tới hạn (HACCP). Nước này cũng đã ban hành Luật Thủy sản mới.


Với thực vật và sản phẩm thực vật nhập khẩu, Thổ Nhĩ Kỳ ban hành quy trình hun trùng, khử trùng có hiệu lực từ ngày 1/1/2027. Hàng hóa phải có Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật phù hợp tiêu chuẩn ISPM 12, ghi đầy đủ các biện pháp xử lý tại nước xuất khẩu vào mục “Xử lý khử trùng và/hoặc khử khuẩn”, kể cả khi phía Thổ Nhĩ Kỳ không yêu cầu hun trùng. Riêng quy định về hương liệu thực phẩm, các cơ sở kinh doanh phải hoàn tất tuân thủ chậm nhất ngày 31/12/2026.

Văn phòng SPS Việt Nam đề nghị cơ quan, hiệp hội và doanh nghiệp chủ động nghiên cứu, gửi góp ý bằng tiếng Việt và tiếng Anh chậm nhất 3 ngày trước hạn của từng thông báo. Theo đó, hạn gửi ý kiến về hai dự thảo của Canada là ngày 10/12/2026, còn các thông báo của Ai Cập là ngày 3/12/2026.


Áp lực đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng lớn. Từ đầu năm đến ngày 15/9/2026, các thành viên WTO đã ban hành 822 thông báo SPS, gồm 509 dự thảo và 313 quy định có hiệu lực, đến từ 166 thành viên. Riêng nửa đầu tháng 10, Văn phòng SPS Việt Nam tổng hợp thêm 58 thông báo.


“Đây là thông tin mà các doanh nghiệp cần phải lưu ý”, TS. Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam, nhấn mạnh. Theo ông, doanh nghiệp và hợp tác xã cần đưa yêu cầu thị trường vào quản trị chuỗi sản xuất, kinh doanh; gắn ứng dụng công nghệ với kiểm soát an toàn thực phẩm, minh bạch thông tin và chứng minh khả năng tuân thủ tiêu chuẩn nhập khẩu.

Nguồn: kevesko.vn
0 bạn đọc
Đánh giá tốt
Chuyên mục liên quan
X
Bình luận của bạn:

СМИ сетевое издание «Baonga.com» зарегистрировано в Федеральной службе по надзору в сфере связи, информационных технологий и массовых коммуникаций. Регистрационный номер средства массовой информации Эл № ФС77-73891 от 29 октября 2018 г. Учредитель Ха Вьет Лонг, номер телефона: +7(905) 238 89 99. Главный редактор: Чан Тхи Тху Ха: Адрес электронной почты: info@baonga.com; Номер телефона: +7(960) 222 19 99. Настоящий ресурс содержит материалы 16+. Использование информации с данного веб-сайта возможно исключительно на следующих условиях: В конце текста необходимо указывать ссылку на сайт https://baonga.com. Текст должен копироваться в первоначальном виде. Не допускается удаление ссылки на данный веб-сайт из текстов материалов. Реклама: Rus +7(926) 282 29 86 (Viber, Whatsapp, Zalo); Вьетнам +84.979.137.386.