Apr 13
Nghi án hot girl nổi tiếng lộ clip nóng với bạn trai
Thứ bảy 13/04/2019 5:45 Lượt xem: 2,033

Một clip nóng dài hơn 4 phút đang khiến độc giả mạng xôn xao hôm nay.

Chiều 12/4, trên các diễn đàn xuất hiện đoạn clip nhạy cảm của một đôi nam nữ. Nhân vật nữ trong clip được cho là có nhiều nét giống hot girl nổi tiếng. Chỉ sau vài giờ đăng tải, clip bị lan truyền chóng mặt và nhận không ít bình luận trái chiều. 

Ảnh cắt từ clip

Từ những hình ảnh được chụp lại từ clip, nhiều người hoài nghi đây chính là hot girl khá nổi tiếng từ các gameshow và một vài chương trình truyền hình. Tuy nhiên, phía hot girl hiện tại đã tắt điện thoại, khóa trang cá nhân. 

Trước vấn đề này, chuyên gia tư vấn tâm lý Trịnh Trung Hòa cho rằng, hành vi hai người yêu nhau có quan hệ tình dục và quay video lại có thể với mục đích để làm kỷ niệm, là không vi phạm pháp luật.

‘Người vi phạm là người phát tán clip nóng trên. Về mặt đạo đức, đây là hành vi vô văn hóa, về mặt pháp luật là phạm pháp và sẽ bị xử lý theo quy định’, chuyên gia này khẳng định.

Chuyên gia Trịnh Trung Hòa nói: ‘Giữa nam và nữ, trong mối quan hệ yêu đương, họ hoàn toàn có quyền riêng tư, sở hữu những clip riêng tư, nhạy cảm với nhau. Tuy nhiên trong thời đại công nghệ phát triển, đã có nhiều trường hợp cảnh nóng bị phát tán gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân vật chính. Bởi vậy giới trẻ yêu nhau phải có phương án đảm bảo sự an toàn cho mình’.

Là một chuyên gia tư vấn tâm lý, Trịnh Trung Hòa cũng từng tiếp nhận nhiều trường hợp tương tự.

‘Đó là những người trẻ, trong thời gian yêu nhau họ gửi hình ảnh, video nhạy cảm cho nhau. Tuy nhiên không may, những hình ảnh này bị rò rỉ ra ngoài. Sau đó, người khác đem phát tán lên mạng xã hội. Việc này khiến người trẻ phải mệt mỏi, trầm cảm vì phải đối mặt với dư luận’, ông nói.

Trao đổi với VietNamNet, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Quang - Phó trưởng khoa Luật dân sự, Trường ĐH Luật TP.HCM cho biết, hành vi sử dụng hình ảnh cá nhân của người khác mà không được sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật, gây ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín là vi phạm các điều 32, điều 34 và điều 38 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Cụ thể, điều 32 về Quyền cá nhân đối với hình ảnh quy định, nếu việc sử dụng hình ảnh cá nhân không được sự đồng ý của người có hình ảnh, không được thỏa thuận về mặt thù lao nếu vì mục đích thương mại, không vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích cộng đồng thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.

Điều 34 về Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín quy định: Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.

Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.

Ở khoản 2 điều 38 về Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, luật quy định: Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.

Theo TS. Quang, về việc bồi thường thiệt hại do danh dự, uy tín bị xâm phạm, ở điều 592 Bộ Luật Dân sự năm 2015 cũng quy định, về mặt dân sự, người bị hại có thể yêu cầu gỡ hình ảnh đó xuống, buộc người đăng tải phải xin lỗi, đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần.

Nếu người bị hại muốn khởi tố hình sự, phải làm đơn tố cáo lên cơ quan công an. Sau đó, việc có khởi tố vụ việc hay không là do cơ quan công an quyết định.

Trong khi đó, luật sư Nguyễn Anh Thơm (Đoàn luật sư TP.Hà Nội) nhận định:

'Việc phát tán clip nóng, văn hóa phẩm đồi trụy lên mạng là hành vi vi phạm pháp luật. Nếu đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, đối tượng thực hiện hành vi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 253 Bộ luật Hình sự về tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy và Điều 121 Bộ luật Hình sự về tội Làm nhục người khác'.

Điều 253 Bộ luật Hình sự về tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy:

- Người nào sao chép, lưu hành, vận chuyển, mua bán, tàng trữ nhằm phổ biến sách, báo, tranh, ảnh, phim, nhạc hoặc những vật phẩm khác có tính chất đồi trụy, cũng như có hành vi khác truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy thuộc một trong các trường hợp:

- Vật phạm pháp có số lượng lớn; Phổ biến cho nhiều người; Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 5-50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng-3 năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: có tổ chức.

- Đối với người chưa thành niên; Gây hậu quả nghiêm trọng… thì bị phạt tù từ 3-10 năm. Ngoài ra, người phạm tội còn bị phạt tiền từ 3-30 triệu đồng.

Điều 121 Bộ luật hình sự về tội làm nhục người khác:

- Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

- Phạm tội nhiều lần, với nhiều người thì bị phạt tù từ 1-3 năm.Tuy nhiên, trong trường hợp này, nạn nhân phải có đơn đề nghị khởi tố kẻ đã tung ảnh, clip sex để xử lý theo pháp luật do đây thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại.

Hot girl nổi tiếng lộ clip nóng 5 phút có vi phạm luật hôn nhân gia đình không?

Một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình là tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng. Chiều 12/4, cư dân mạng đã vô cùng xôn xao trước thông tin 1 hot girl nổi tiếng bị lộ clip "nóng".

Hiện tại, những hình ảnh và clip này đang được lan truyền một cách chóng mặt trên mạng xã hội. 


Từ những hình ảnh được chụp lại từ clip, rất nhiều người đã khẳng định đây chính là hot girl khá nổi tiếng từ các gameshow và một vài chương trình truyền hình.

Hiện trên Facebook, dân mạng đồn rằng người đàn ông xuất hiện trong clip đã có gia đình, vợ của người đàn ông này đang mang bầu. Có ý kiến thắc mắc liệu người đẹp này có vi phạm luật hôn nhân gia đình không nếu clip này được quay trong khoảng thời gian người đàn ông kia đã có vợ?

Dân mạng đồn rằng người đàn ông xuất hiện trong clip đã có gia đình.

Một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình là tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng. Đồng thời, trong thời kỳ hôn nhân, nam/nữ không được kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác.


Bộ luật Hình sự 2015 quy định về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng tại Điều 182. Theo đó, người phạm tội ngoại tình sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm, nghiêm trọng hơn thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Đến mức nào thì chịu trách nhiệm hình sự?

Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi ngoại tình không phải là một vấn đề mới Cụ thể, người có hành vi ngoại tình có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về "Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng" theo Điều 147 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).


Theo quy định này, người có hành vi "vi phạm chế độ một vợ, một chồng" được hiểu là người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác; hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

Từ ngày 1/7/2016, Bộ luật hình sự năm 2015 sẽ thay thế Bộ luật hình sự năm 1999. Theo quy định tại Điều 182 Bộ luật mới về "Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng", những hậu quả mà hành vi ngoại tình gây ra được quy định cụ thể, thay thế cho hậu quả chung chung được quy định trong Bộ luật cũ.


Theo đó, không phải người nào ngoại tình cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thuộc các trường hợp quy định tại Điều 182, cụ thể:

"Điều 182: Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến một năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;


b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó".

Khái niệm "chung sống như vợ chồng" đã được quy định tại Điều 147 Bộ luật hình sự cũ và được Điều 182 Bộ luật mới giữ nguyên. Khái niệm này đã được giải thích cụ thể tại mục 3.1 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/9/2001:

"Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó...".

Theo quy định của Điều 182 Bộ luật hình sự 2015 vừa trích dẫn ở trên, chỉ những người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác, hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ và hậu quả của việc kết hôn, chung sống như vợ chồng đó đã làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn thì mới có thể bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm.


Như vậy, chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm;

- Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

- Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

Trường hợp chỉ bị xử lý vi phạm hành chính

Đối với trường hợp người có hành vi ngoại tình nhưng hành vi này chưa đủ yếu tố cấu thành "Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng" theo quy định của Điều 182 thì có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24/09/2013.

Khi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng sẽ bị xử lý vi phạm hành chính theo Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP, sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 67/2015/NĐ-CP:

Phạt tiền từ một triệu đồng đến ba triệu đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ; […]

Trong đó, bị coi là "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm" nếu trước đó người nào đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi được liệt kê trong một điều luật nói trên, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà lại:

a) Thực hiện chính hành vi đó;

b) Thực hiện một trong những hành vi được liệt kê trong điều luật tương ứng đó.

Theo quy định tại Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính là 6 tháng, 1 năm hoặc 2 năm tùy hình thức xử lý vi phạm hành chính được áp dụng.

Diệu Bình - Nguyễn Thảo - Ngọc Trang 
Nguồn: vietnamnet.vn

Loading...

2 bạn đọc

Chưa có bình luận nào cho bài viết này.
Bình luận của bạn:
 

Gửi phản hồi
Ca nhạc VIỆT NAM TRONG TÔI Ca nhạc Việt Nam trong tôi 2013 Tôi yêu Việt Nam 2013 Mùa đông nước Nga 2012-2013 Mùa thu vàng nước Nga 2013 Vũ khúc mùa đông Đêm Việt Nam: Tết xa quê 2014 Xuân tình yêu 2014 Giấc mộng đêm hè 2014 Mùa thu vàng nước Nga 2014 Chương trình ca nhạc hè 2015: "Giấc mơ có thật" Mùa thu vàng nước Nga 2018
Loading...